
Sở Bảo Tồn và Giải Trí
Mục lụcĐầm lầy Mafic và Rò rỉ
Các vùng đất ngập nước bão hòa này tương tự như các đầm lầy canxi và rò rỉ nhưng xuất hiện trên đất bị phong hóa từ đá mácma và đá biến chất mafic hoặc siêu mafic. Ở Virginia, những cộng đồng nhỏ này chủ yếu được biết đến ở các khu vực The Glades và Buffalo Mountain thuộc phía Nam Blue Ridge (tương ứng là Quận Grayson và Floyd), với một địa điểm xa xôi tại Big Meadows ở phía Bắc Blue Ridge (Quận Madison). Môi trường sống là các khe suối ở sườn đồi hoặc chân dốc và đáy suối nhỏ bão hòa nước ngầm. Địa hình vi mô thường không đồng đều, với sự phát triển theo kiểu gò đất và trũng, các dòng suối đan xen, các khu vực lắng đọng sỏi và đá cuội thô, các vùng trũng đầy bùn và các lớp than bùn tích tụ từ nông đến đáng kể. Đất có nguồn gốc từ đá amphibolit, đá phiến actinolite, đá gabro, đá metabasalt hoặc các loại đá tương tự có tính axit mạnh đến nhẹ, với hàm lượng magiê và sắt cao và tỷ lệ canxi/magiê thấp ở mức trung bình. Các cộng đồng trong nhóm này thiếu đất hữu cơ đáng kể về mặt kỹ thuật được gọi là "vùng thấm", mặc dù thuật ngữ "vùng đầm lầy" được áp dụng rộng rãi cho nhiều vùng đất ngập nước thấm mafic hoặc đá vôi ở đông nam Hoa Kỳ (xem Weakley và Schafale 1994 để biết thêm thảo luận).
Thảm thực vật của các vùng đất ngập nước này trải dài từ rừng thưa và cây bụi cao đến toàn thân thảo, nhưng thường là thảm thực vật hỗn hợp gồm cây gỗ và các khoảng trống thân thảo. Trong các biến thể rừng, tầng cây bụi chủ yếu là sự kết hợp của cây thích đỏ (Acer rubrum), thông trắng miền đông (Pinus strobus), thông nhựa (Pinus rigida) và cây tulip (Liriodendron tulipifera); các lớp bên dưới chứa hỗn hợp đặc biệt của các loài đầm lầy thấm nước điển hình, các loài chỉ thị mafic và các loài thường liên quan đến vùng đất ngập nước có tính axit. Cây sồi trơn (Alnus serrulata), cây hoa đồng cỏ (Spiraea latifolia và Spiraea tomentosa), cây dương đào cứng (Cornus racemosa), cây chín thông thường (Physocarpus opulifolius var. opulifolius), cây nam việt quất (Lyonia ligustrina var. ligustrina), cây gia vị (Lindera benzoin var. benzoin), và cây hắc mai lá alder (Rhamnus alnifolia) là những cây bụi đặc trưng ở cả các tầng rừng và rừng thưa Fens.
Hệ thực vật thảo mộc của vùng đầm lầy mafic chứa nhiều loài quý hiếm và khác thường, bao gồm một số loài nằm tách biệt giữa đồng bằng ven biển và núi. Các loại thảo mộc đặc biệt có khả năng chẩn đoán hoặc có nhiều trong những môi trường sống này bao gồm Canada burnet (Sanguisorba canadensis), cỏ parnassus lá lớn (Parnassia grandifolia), bluejoint (Calamagrostis canadensis), cây hắt hơi lá ngắn (Helenium brevifolium), cây kim châm đầm lầy (Solidago uliginosa var. uliginosa), cói vô sinh (Carex sterilis), cói đồng ruộng (Carex conoidea), fimbry lông (Fimbristylis puberula var. puberula), cỏ mỏ trắng phương bắc (Rhynchospora alba), muhly đầm lầy (Muhlenbergia glomerata), dương xỉ hoàng gia (Osmunda spectabilis), cây dương xỉ quế (Osmundastrum cinnamomeum), cây lác rừng (Scirpus expansus), cây kim châm lá thô (Solidago patula), cây thủy tiên giả dính (Triantha glutinosa), và cây lau sậy (Clidium mariscoides).
Các quy trình duy trì những hệ thống này trong điều kiện mở vẫn chưa được hiểu rõ. Tất cả các trường hợp được ghi nhận đều có quy mô nhỏ và đã bị ảnh hưởng ở một mức độ nào đó do hoạt động khai thác gỗ và/hoặc chăn thả gia súc. Việc đào mương và các thay đổi thủy văn khác, chăn thả gia súc, cỏ dại ngoại lai, sự kế thừa cây gỗ và ở các vùng đầm lầy thoáng hơn, việc ngăn chặn cháy rừng là những mối đe dọa liên tục đối với các vùng đất ngập nước tự nhiên hiếm có này, nhiều vùng trong số đó vẫn chưa được bảo vệ.
Tham khảo: Ogle (1982).Nhấp vào đây để xem thêm ảnh về nhóm cộng đồng sinh thái này.
© DCR-DNH, Gary P. Fleming.
Tải xuống bảng tính thống kê tóm tắt thành phần cho từng loại cộng đồng được liệt kê bên dưới.